
Viettel được xem như hình mẫu nhờ khả năng hình thành chuỗi giá trị và dẫn dắt cả một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển
Thông tin được bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), xác nhận tại tọa đàm “Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?” vừa diễn ra.
Đây là nhiệm vụ được giao tại chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị khi đặt ra mục tiêu đến năm 2030 có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Câu hỏi quan trọng nhất không phải danh mục gồm những ai, mà là: doanh nghiệp có tên trong danh mục sẽ được giao thêm nhiệm vụ gì, và được trao thêm cơ chế gì.
Xác định ngành trước, chọn doanh nghiệp sau
Ngưỡng doanh thu để lọt vào bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới của Fortune hiện vào khoảng 33,2 tỉ USD. Với giả định tăng trưởng doanh thu bình quân trên 10% mỗi năm, một tập đoàn muốn hiện thực hóa mục tiêu 2030 cần có nền tảng doanh thu từ khoảng 20 tỉ USD ở thời điểm hiện tại. EVN, với doanh thu hợp nhất năm 2025 ước khoảng 24,8 tỉ USD, đã đăng ký tham gia mục tiêu này.
Ở cấp khu vực, bức tranh khả quan hơn. Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2025 của Fortune có 76 doanh nghiệp Việt Nam, tăng từ 70 của năm trước; Petrovietnam lần đầu góp mặt ở vị trí thứ 11 và là đại diện duy nhất của Việt Nam trong nhóm 20 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất. Ngưỡng vào danh sách khu vực chỉ khoảng 349 triệu USD.
Khoảng cách giữa hai bảng xếp hạng – gần một trăm lần về ngưỡng doanh thu – cho thấy mục tiêu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 khu vực là khả thi, còn mục tiêu 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 toàn cầu thực sự khó. Điều này đòi hỏi không chỉ tốc độ tăng trưởng duy trì trong nhiều năm, mà tốc độ thì đến từ cơ chế.
Về tiêu chí, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết danh mục sẽ tham khảo chuẩn mực của các bảng xếp hạng quốc tế – quy mô doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu – kết hợp với tiềm năng phát triển, thị phần và mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào ngành.
Điểm đáng chú ý nằm ở trình tự: Bộ Tài chính xác định trước những ngành, lĩnh vực mà Nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, sau đó mới lựa chọn doanh nghiệp phù hợp.
Theo bà, một doanh nghiệp hiện quy mô chưa lớn nhưng hoạt động trong lĩnh vực chiến lược và có tiềm năng vẫn có thể được đưa vào định hướng đầu tư, phát triển thành doanh nghiệp mạnh.
Thực tế này đặt ra yêu cầu bài toán về nguồn lực. Bởi qua 40 năm đổi mới, số doanh nghiệp có vốn nhà nước đã giảm còn khoảng 850, trong đó chừng 700 doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ.
Riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính làm cơ quan đại diện chủ sở hữu đã nắm trên 60% tổng vốn và tài sản của toàn khối. Mức tập trung như vậy là đáng kể, nhưng con số 850 vẫn lớn so với thông lệ nhiều nước – có nơi chỉ khoảng 200 doanh nghiệp.
Đầu tàu đo bằng gì
Thể chế phải đi trước, hoặc ít nhất là đi cùng trong quá trình này – theo quan điểm của TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói khi đề xuất chọn những doanh nghiệp đang có tiềm năng và đã chứng minh được năng lực trên thực tế.
Vậy danh mục doanh nghiệp dẫn dắt dự kiến sẽ được đo đếm bằng tiêu chí nào? Theo TS. Nguyễn Đình Cung, doanh nghiệp không còn cạnh tranh với nhau, mà là chuỗi giá trị cạnh tranh với chuỗi giá trị. Trong mỗi chuỗi luôn có một doanh nghiệp dẫn đầu kéo theo cả hệ thống nhà cung ứng.
Khi các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ mang theo chuỗi cung ứng của họ; kỳ vọng doanh nghiệp Việt được kéo vào chuỗi ấy là chính đáng, nhưng lợi ích của họ lớn hơn và họ không dễ chia sẻ. Do đó, ông cho rằng Việt Nam phải tự xây dựng chuỗi của mình, và doanh nghiệp nhà nước phải làm được việc đó.

Viettel ghi nhận doanh thu hơn 220.000 tỉ đồng trong năm 2025, nộp ngân sách 42.290 tỉ đồng
Ông dẫn Viettel như bằng chứng cho thấy điều đó khả thi – không phải vì quy mô, mà vì khả năng hình thành chuỗi giá trị và dẫn dắt cả một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển. Từ đó, ông đề nghị nghiên cứu chính các trường hợp đã thành công để rút ra tiêu chí lựa chọn, thay vì viện dẫn kinh nghiệm quốc tế một cách chung chung.
TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni nhận xét doanh nghiệp nhà nước nhìn chung hầu như không xuất khẩu, chủ yếu khai thác thị trường trong nước. Ngay cả các định chế tài chính lớn cũng gần như không ra nước ngoài. Yêu cầu đặt ra sau Nghị quyết 79 là phải chuyển từ tư thế phòng thủ sang tư thế tấn công.
Những nút thắt chưa mở
Nhưng có những khoảng trống khi một doanh nghiệp được xác định là đầu tàu, giá trị không chỉ nằm ở doanh thu và lợi nhuận, mà còn ở tỉ lệ nội địa hóa, giá trị đặt hàng cho doanh nghiệp trong nước, số doanh nghiệp nhỏ và vừa được kéo vào chuỗi cung ứng. Những chỉ tiêu ấy hiện chưa có trong hệ thống đánh giá.
Tương tự, với yêu cầu vươn ra thị trường quốc tế, chừng nào mức độ thâm nhập thị trường nước ngoài chưa trở thành một tiêu chí đánh giá có trọng số tương xứng, thì việc mở rộng ra bên ngoài vẫn là lựa chọn nhiều rủi ro hơn so với khai thác thị trường trong nước.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, ngay cả những doanh nghiệp đã đi xa vẫn có những hạng mục lẽ ra còn đi xa hơn nếu không vướng rào cản. Ông cho rằng bằng chứng thực tế đã có sẵn, vấn đề chỉ là nghiên cứu để nhận diện. Nếu doanh nghiệp mạnh nhất còn vướng, phần còn lại của khu vực sẽ vướng nặng hơn nhiều.
Xây dựng Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh là bước đi cần thiết. Không thể có doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 lớn nhất thế giới nếu không xác định rõ ai sẽ được đầu tư và đầu tư vào đâu.
Nhưng danh mục tự nó không tạo ra năng lực. Nếu doanh nghiệp được gọi tên mà cơ chế vẫn như cũ – vẫn phải qua nhiều tầng phê duyệt cho từng dự án, vẫn được đánh giá bằng thước đo chưa phản ánh hết phần đóng góp, vẫn thiếu công cụ để cạnh tranh ở thị trường quốc tế – thì phép tính bốn năm nêu ở đầu bài sẽ rất khó khả thi. Điều kiện đi kèm nên được chuẩn bị song song ngay từ bây giờ, chứ không đợi đến khi danh mục được ban hành.

