
Dự án bất động sản đang được xây dựng ở phường Phước Thắng, TP.HCM (ảnh chụp chiều 5-4) – Ảnh: Q.Đ.
Tuổi Trẻ trao đổi với Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng TP.HCM Ngô Anh Vũ về kiến nghị luật hóa công tác quy hoạch vào dự thảo Luật Đô thị đặc biệt để công cụ quy hoạch thực sự phát huy hiệu quả để TP.HCM phát triển.
Gỡ điểm nghẽn, dự liệu yêu cầu phát triển
* Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt gồm 10 chương. Chương về quy hoạch được xếp thứ tự ưu tiên. Xin ông nói rõ hơn về ý nghĩa, vai trò công cụ quy hoạch khi được luật hóa?
– Ở TP.HCM nhiều năm qua thực trạng quy hoạch và thực thi công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, chồng chéo, khâu bồi thường và giải phóng mặt bằng chậm trễ kéo dài tiến độ dự án. Rất nhiều dự án đầu tư công và cả các dự án đầu tư tư nhân bị ách vì vướng quy hoạch.
Đơn cử như dự án cải tạo chung cư cũ dù rất cấp thiết nhằm bảo đảm an toàn sinh mạng người dân, đồng thời cải tạo diện mạo đô thị khang trang nhưng vướng quy định cần tỉ lệ cư dân đồng thuận 100%, rồi điều chỉnh giảm tỉ lệ đồng thuận xuống 75% nhưng triển khai vẫn rất chậm. Thực trạng này dẫn đến điểm nghẽn khiến cho sự phát triển của TP.HCM trì trệ.
Công cụ quy hoạch là nền tảng để bảo đảm tầm nhìn, mục tiêu phát triển của bất kỳ đô thị, quốc gia nào được triển khai đúng hướng. Và với thực trạng nền tảng này đang là điểm nghẽn phát triển của TP.HCM thì việc dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đưa vào một chương (quy hoạch tổng thể và phát triển đô thị) là rất cần thiết.
* Là chuyên gia được UBND mời tham vấn về dự thảo Luật Đô thị đặc biệt vừa qua, ông đánh giá thế nào nội dung quy hoạch ghi nhận tại dự thảo?
– Có thể nói điểm nghẽn về quy hoạch TP.HCM đã kiến nghị và theo lộ trình các nghị quyết được Quốc hội thông qua đã có cơ chế, chính sách tháo gỡ. Ví dụ theo nghị quyết 98 trong 44 cơ chế, chính sách đặc thù thì có khoảng 10 cơ chế, chính sách liên quan đến công tác quy hoạch.
Tiếp đến nghị quyết 260 cho TP thêm cơ chế vượt trội về công tác quy hoạch tổng thể và phát triển đô thị, bổ sung thêm, rõ thêm quy hoạch về TOD, về khu FTZ… Các nghị quyết khác như 188, 222 bổ sung thêm về thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế…
Các nghị quyết dần tháo gỡ cho TP các vướng mắc về hợp đồng BT, chọn nhà đầu tư chiến lược… để đẩy nhanh thủ tục đầu tư.
Và nội dung dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đã kế thừa, tích hợp những cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội về quy hoạch theo các nghị quyết trên. Tôi cho rằng các cơ chế, chính sách về quy hoạch trên đến thời điểm hiện tại có thể là đủ cho TP.HCM. Nhưng vẫn còn băn khoăn rằng còn những yêu cầu nào về phát triển sẽ phát sinh và cần bổ sung cơ chế, chính sách nào nữa?
Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cần dự liệu được trong thời gian sắp tới để xây dựng luật có tính ổn định, bền vững hơn để không phải cứ tiếp tục xin thêm, bổ sung, sửa đổi. Tôi e rằng với cách tiếp cận xây dựng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt như hiện nay có thể phải tiếp tục xin…

Linh hoạt cập nhật, thích ứng
* Theo ông, để công cụ quy hoạch được bền vững cùng với Luật Đô thị đặc biệt cần “thiết kế” như thế nào?
– Hiện dự thảo luật đang tích hợp các cơ chế, chính sách vượt trội từ các nghị quyết cho TP.HCM và có học tập từ Luật Thủ đô. Trong đó dự thảo Luật Đô thị đặc biệt cũng ghi nhận nguyên tắc ưu tiên áp dụng các văn bản được ban hành để thực hiện Luật Đô thị đặc biệt trong trường hợp có quy định khác, mâu thuẫn với Luật Đô thị đặc biệt về cùng một vấn đề.
Tuy nhiên theo tôi, như vậy là vẫn chưa đủ. Để bảo đảm tính bền vững của Luật Đô thị đặc biệt cũng như công cụ quy hoạch, theo tôi, dự thảo luật phải xây dựng theo nguyên tắc bảo đảm tính tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm của TP về quy hoạch tổng thể và phát triển đô thị.
Theo đó, để đáp ứng các phát sinh từ yêu cầu thực tiễn quy hoạch phát triển TP sẽ có cơ chế để quyết nhanh các quyết sách mới, thích ứng. Khi gặp các vấn đề mới phát sinh thuộc tất cả các lĩnh vực từ quy hoạch tài chính, đầu tư, liên kết vùng… TP sẽ giải quyết thông qua cơ chế linh hoạt thay vì mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục.
Ví dụ có thể quy định đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến quy hoạch phát triển trên các lĩnh vực thì cho phép TP.HCM giải quyết thông qua nghị quyết của HĐND TP hoặc những vấn đề vượt thẩm quyền thì đề xuất thông qua Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép trong thời gian ngắn với thủ tục nhanh, gọn.
* Như góp ý của ông, để bảo đảm tính linh hoạt, tự chủ của TP.HCM trong quy hoạch phát triển thì Luật Đô thị đặc biệt cần phân quyền rạch ròi, triệt để hơn?
– Đúng vậy. Như nhiều chuyên gia góp ý về triết lý trong quản trị là “muốn quản tốt thì nên buông”. Triết lý đó được hiểu là để quản lý hiệu quả thì cần phân định lĩnh vực nào, phạm vi nào cần quản lý, quản lý đến mức nào… Từ triết lý đó, dự thảo Luật Đô thị đặc biệt không nên liệt kê quá chi tiết về quy hoạch phát triển, về các lĩnh vực. Bởi lẽ càng chi tiết sẽ càng thiếu, càng cứng nhắc.
Nhìn từ Luật Quy hoạch và công tác quy hoạch chúng ta có thể thấy rằng có những việc không cần thực hiện theo trình tự pháp lý thông thường mà có thể quyết nhanh hơn.
Ví dụ như thực trong quy hoạch của TP thì quá chi tiết, việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt, triển khai quy hoạch qua nhiều khâu từ quy hoạch tỉnh đến quy hoạch phân khu, rồi đến quy hoạch chi tiết với nhiều thủ tục, mất nhiều công sức.
Trong khi tại một số dự án lớn đã giao hết cho nhà đầu tư làm rồi thì chỉ cần giám sát nhà đầu tư để bảo đảm triển khai đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn theo quy hoạch mà không cần phải có quy hoạch phân khu.
Đồng thời hiện nay chúng ta đang thực hiện mô hình chính quyền đô thị hai cấp thì về công tác quy hoạch nên chăng chúng ta cũng chỉ cần làm hai cấp, rút gọn từ quy hoạch tỉnh đến quy hoạch chi tiết.
Luật Đô thị đặc biệt cần thiết kế để phân định rõ phạm vi phân quyền, phân cấp. Trong lĩnh vực nào, phạm vi nào thì TP.HCM được tự quyết và bảo đảm cơ chế để cập nhật, thích ứng theo thay đổi của yêu cầu phát triển. TP.HCM cần cơ chế đủ linh hoạt để TP tự “may áo phát triển”.
Đề xuất chủ tịch UBND phê duyệt quy hoạch tổng thể sau khi HĐND thông qua
Tai báo cáo đề cương, các chính sách vượt trội và đề xuất dự thảo Luật Đô thị đặc biệt của Đại học Quốc gia TP.HCM, đơn vị tham mưu dự thảo, đề xuất về quy hoạch tổng thể và phát triển đô thị tương tự như Luật Thủ đô.
Đó là cần quy định trên địa bàn đô thị đặc biệt chỉ lập một quy hoạch tổng thể trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và tích hợp, lồng ghép các nội dung của quy hoạch tỉnh, quy hoạch chung của đô thị đặc biệt.
Chủ tịch UBND phê duyệt quy hoạch sau khi HĐND thông qua. Bên cạnh đó, luật cần quy định khung pháp lý cho quản lý không gian ngầm, không gian tầm thấp và không gian tầm cao. Đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh đầy đủ nhưng có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển đô thị hiện đại.
– PGS.TS TÔ VĂN HÒA (Hiệu trưởng Đại học Luật Hà Nội):
Bảo đảm quy hoạch có địa vị pháp lý đủ mạnh để thực sự dẫn dắt phát triển
Luật Đô thị đặc biệt cần bao trùm một hệ sinh thái chính sách toàn diện, trong đó các cấu phần lớn được liên kết bởi một logic phát triển thống nhất. Luật cần quy định về quy hoạch tổng thể TP và bảo đảm quy hoạch có địa vị pháp lý đủ mạnh để thực sự dẫn dắt phát triển, không chỉ dừng ở chức năng quản lý không gian.

Cầu Ba Son kết nối đôi bờ sông Sài Gòn, phường Sài Gòn qua phường An Khánh, TP.HCM – Ảnh: Q.Đ.
Luật này cần có cơ chế điều chỉnh chính sách linh hoạt cho phép TP.HCM đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê duyệt các cơ chế chính sách đặc thù bổ sung phù hợp với diễn biến thực tiễn và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp gần nhất, biến đạo luật thành một thiết kế sống có khả năng tự cập nhật.